LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA THẺ NHỰA

.
    Vào đầu những năm 1950, nhờ vật liệu tổng hợp PVC giá rẻ, người ta đã sản xuất hàng loạt thẻ nhựa phù hợp cho việc sử dụng hàng ngày thay cho việc dùng thẻ bằng giấy trước đây.
Thẻ thanh toán bằng nhựa đầu tiên được phát hành bởi “Diner Clubs” vào năm 1950, dự định phát hành cho một tầng lớp riêng biệt cho phép người mang thẻ có thể ghi nợ tại một số nhà hàng và khu giải trí. Thời gian đầu chỉ có một số nhà hàng và khách sạn chấp nhận những thẻ này.

    Thoạt đầu chức năng của những thẻ này khá đơn giản. Đó là phương tiện lưu trữ dữ liệu được bảo vệ nhằm tránh giả mạo và sửa đổi. Thông tin chung như tên nhà phát hành thẻ được in ấn trên bề mặt thẻ trong khi những thông tin cá nhân như tên của chủ thẻ và số thẻ thì được dập nổi. Nhiều thẻ có thêm chỗ ký tên để chủ thẻ ký tên dành cho tham khảo. Trong thế hệ thẻ phát hành đầu tiên này, việc bảo vệ chống lại sự giả mạo dựa trên những đặc điểm trực quan như phần in trên thẻ và phần ký tên. Vì thế sự an toàn của hệ thống phụ thuộc khá nhiều sự tỉnh táo của người chịu trách nhiệm chấp nhận thẻ. Sau này việc dùng thẻ phát triển tăng vọt nên những đặc điểm trực quan này không còn hiệu quả, đặc biệt là các mối đe dọa từ các tổ chức tội phạm đang phát triển nhanh.

    Tiến bộ đầu tiên của thẻ nhựa là dùng dải từ trên mặt sau của thẻ, cho phép dữ liệu số được lưu trữ trên thẻ dưới dạng máy có thể đọc được để hỗ trợ thêm vào thông tin trực quan. Điều này làm giảm khả năng dùng biên nhận giấy, mặc dù chữ ký khách hàng vẫn được yêu cầu trên ứng dụng thẻ tín dụng truyền thống như là một hình thức định danh người dùng. Tuy nhiên, người ta cũng đưa ra một cách tiếp cận mới không yêu cầu biên nhận giấy, dẫn tới khả năng đạt được một mục đích lâu dài là thay thế giao dịch dựa trên giấy bằng xử lý dữ liệu điện tử. Vì vậy cần thiết phải có một phương pháp khác được sử dụng để xác thực định danh người dùng. Phương pháp được sử dụng rộng rãi liên quan đến một con số định danh cá nhân bí mật, hay còn gọi là số PIN (personal identification number). Những thẻ dập nổi với dải từ vẫn còn là loại thẻ được sử dụng thông thường cho các giao dịch tài chính đến thời điểm hiện nay.

    Tuy nhiên, công nghệ từ có một điểm yếu quan trọng là dữ liệu lưu trữ trên dải từ có thể bị đọc, xóa và thay đổi bởi bất cứ người nào với thiết bị cần thiết. Vì thế không thích hợp cho việc lưu trữ dữ liệu bí mật.

    Thế hệ thẻ cải tiến tiếp theo sau thẻ từ là thẻ thông minh. Sự phát triển của thẻ thông minh đi liền với sự phát triển của các hệ thống xử lý dữ liệu điện tử, dẫn đến khả năng sáng chế ra nhiều giải pháp mới. Sự phát triển to lớn của vi điện tử những năm 1970 cho phép tích hợp dữ liệu và xử lý logic trong một con chip silicon đơn có kích thước chỉ bằng một vài mili mét vuông. Ý tưởng kết hợp một mạch tích hợp vào một thẻ định danh đã được sáng chế bởi hai nhà phát minh người Đức Jurgen Dethloff và Helmut Grotrupp năm 1968. Sau đó, năm 1979 ra đời một sáng chế tương tự của Kunitaka Arimura ở Nhật Bản. Tuy nhiên sự phát triển thật sự đầu tiên của thẻ thông minh là khi Roland Moreno đăng ký sáng chế thẻ thông minh ở Pháp năm 1974. Và chỉ lúc đó công nghệ bán dẫn mới có khả năng cung cấp các mạch tích hợp cần thiết với giá chấp nhận được.

    Một bước đột phá lớn của thẻ vào năm 1984 là khi French PTT (post, telegraph and telephone) đã thành công trong việc thử nghiệm thẻ điện thoại. Trong lĩnh vực thử nghiệm này, thẻ thông minh ngay lập tức chứng minh đã đáp ứng tất cả mong đợi về tính tin cậy cao và an toàn, tiện ích trong việc sử dụng. Kết quả thẻ thông minh đã chứng minh được sự nổi trội về tính an toàn cao, ngoài ra thẻ thông minh còn có khả năng được sử dụng linh hoạt trong các ứng dụng trong tương lai. Các mạch tích hợp ban đầu được sử dụng trong thẻ điện thoại là những chip nhớ (memory chip) nhỏ, đơn giản và không đắt tiền với một security logic chuyên biệt cho phép số dư thẻ giảm xuống trong khi vẫn chống lại các thao tác bất hợp pháp. Những chip vi xử lý sau này thường lớn hơn và phức tạp hơn, lần đầu tiên được sử dụng số lớn ở các ứng dụng truyền thông, đặc biệt trong truyền thông di động. Năm 1988, bưu điện Đức đóng vai trò tiên phong trong việc giới thiệu thẻ vi xử lý hiện đại dùng công nghệ EEPROM như một thẻ chứng thực cho các mạng điện thoại di động tương tự (analog mobile). Năm 1991, tại các nước Châu Âu, thẻ thông minh được ứng dụng vào công nghệ di động GSM, thẻ SIM cho điện thoại di động ra đời, đặt nền tảng cho sự phát triển vũ bão của công nghệ di động ở hơn 170 quốc gia như hiện nay.

    Không giống như thành công rực rỡ của thẻ thông minh trong lĩnh vực truyền thông, việc áp dụng thẻ thông minh trong lĩnh vực tài chính nhằm thay thế thẻ từ gặp khó khăn do đòi hỏi về an toàn và bảo mật thông tin do đặc thù thông tin nhạy cảm của lĩnh vực tài chính. Phần cứng và phần mềm hiện đại đã cho phép thực thi các thuật toán phức tạp với nhiều cấp độ bảo mật chưa từng có trước đây. Hơn nữa, công nghệ mới này là sẵn có cho mọi người, ngược lại với trước đây bảo mật chỉ được sử dụng trong quân đội và các dịch vụ bí mật. Thẻ thông minh đã chứng minh là một phương tiện lý tưởng, có độ bảo mật cao (dựa trên mật mã học) khả dụng cho mọi người vì có thể lưu các khóa bí mật và thực thi các thụât toán mật mã an toàn. Hơn nữa, thẻ thông minh nhỏ và dễ quản lý nên có thể được mang và sử dụng khắp nơi trong cuộc sống hàng ngày. Đó là một ý kiến tự nhiên trong việc cố gắng dùng những đặc điểm bảo mật mới cho những thẻ ngân hàng, để nắm và ngăn chặn các rủi ro về bảo mật xuất hiện từ việc gia tăng dùng thẻ từ.

    Năm 1997, tất cả các tổ chức tiết kiệm Đức và nhiều ngân hàng phát hành các thẻ thông minh mới. Năm trước đó, Úc đã phát hàng thẻ thông minh đa chức năng với các chức năng POS, ví điện tử và các dịch vụ tùy chọn được thêm vào. Điều này làm Úc trở thành nước đầu tiên trên thế giới có một hệ thống ví điện tử toàn quốc.

    Một mốc quan trọng trong việc sử dụng thẻ thông minh cho việc thanh toán trên toàn thế giới trong tương lai là sự hoàn thiện của chuẩn kỹ thuật EMV. Đó là một sản phẩm kết quả của nỗ lực liên kết giữa Europay, MasterCard và Visa. Phiên bản kỹ thuật đầu tiên là vào năm 1994. Nó mô tả chi tiết của thẻ tín dụng tích hợp chip vi xử lý và đảm bảo tính tương thích lẫn nhau của thẻ thông minh sau này của 3 tố chức thẻ tín dụng lớn nhất.

    Thanh toán qua Internet đưa ra một lĩnh vực ứng dụng mới và hứa hẹn cho ví điện tử. Tuy nhiên, vấn đề an toàn trong thanh toán qua mạng Internet công cộng chưa được giải quyết một cách thoả mãn. Thẻ thông minh đóng vai trò quyết định để giải quyết bài toán này. Ngoài ra, thẻ thông minh vạch ra một vai trò quan trọng trong việc giới thiệu chữ ký điện tử. Nhiều nước ở Châu Âu đã bắt đầu giới thiệu các hệ thống ví điện tử sau khi một một cơ sở pháp lý về việc sử dụng chữ ký điện tử được phê duyệt và ban hành năm 1999.

    Tính linh động cao về chức năng của thẻ thông minh, thậm chí cho phép chương trình của những ứng dụng mới được thêm vào thẻ thông minh đang dùng đã mở ra một lĩnh lực ứng dụng hoàn toàn mới vượt xa giới hạn sử dụng thẻ truyền thống. Hiện tại, thẻ thông minh đang được sử dụng trong việc chăm sóc sức khỏe, thẻ bảo hiểm quốc gia trên nhiều nước. Ngoài ra thẻ thông minh còn được dùng như là thẻ điện tử cho việc vận chuyển trên các phương tiện giao thông công cộng trong nhiều thành phố trên thế giới

    Nguồn: Thư viện Cao học trường Đại học Công nghệ Thông tin

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Xin bạn hãy góp ý

 
Cong ty in quang cao tai ha noi
Hathanhprinting
16/354 TranCung
Hanoi, Vietnam 100000